Trong tố tụng dân sự, thời hiệu khởi kiện là một chế định quan trọng nhằm bảo đảm sự ổn định của các quan hệ pháp luật và thúc đẩy các chủ thể kịp thời thực hiện quyền yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, thời hiệu khởi kiện được xác định là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà trong thời hạn đó chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp kinh doanh thương mại không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của các bên tranh chấp mà còn là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét việc thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
1. Quy định về thời hiệu khởi kiện dân sự
Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện được định nghĩa như sau:
“Điều 150. Các loại thời hiệu
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”
Theo đó, đối với các vụ án kinh doanh thương mại, thời hiệu khởi kiện sẽ là thời hạn mà pháp luật cho phép chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Tranh chấp kinh doanh thương mại và thời hiệu khởi kiện đối với vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
2.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại
Hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam chưa có điều luật nào quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại. Nhìn chung, các quan điểm thống nhất rằng Tranh chấp kinh doanh thương mại là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc tranh chấp dân sự được giải quyết theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tại Điều 30, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định nhóm 05 tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ thể:
(i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận như: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện địa lý…
(ii) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
(iii) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
(iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
(v) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
Điều 319 Luật Thương mại 2005 có quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.
3. Một số vấn đề cần lưu ý liên quan đến thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
Khi áp dụng thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp kinh doanh thương mại cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện không phải là điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý vụ án. Tuy nhiên, nếu thời hiệu đã hết và đương sự không chứng minh được căn cứ làm bắt đầu lại thời hiệu hoặc thời gian không tính vào thời hiệu, thì đương sự có thể mất quyền khởi kiện.
Thứ hai, việc xác định thời hiệu phải ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành nếu quan hệ tranh chấp thuộc lĩnh vực đó. Nếu luật chuyên ngành có quy định khác về thời hiệu (ví dụ: Luật Hàng hải quy định 01 năm, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định 03 năm) thì áp dụng theo luật chuyên ngành; nếu không có quy định thì áp dụng Luật Thương mại 2005, và trong trường hợp luật thương mại cũng không quy định thì áp dụng Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ ba, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án. Nếu có yêu cầu áp dụng thời hiệu và thời hiệu đã hết, Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ tư, việc áp dụng thời hiệu còn phải xem xét theo thời điểm xác lập giao dịch và thời điểm khởi kiện, theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP, để xác định áp dụng Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự tương ứng với từng giai đoạn pháp luật.
Thứ năm, trong một số trường hợp đặc thù của doanh nghiệp, pháp luật quy định thời hiệu riêng, ví dụ: yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên phải được thực hiện trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được biên bản họp hoặc ngày kết thúc cuộc họp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trên đây là quy định về thời hiệu khởi kiện trong vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại và một số vấn đề cần lưu ý.
Với phương châm chính trực – trung thực – tận tâm vì quyền lợi của khách hàng, Luật Hùng Phúc luôn chú trọng nghiên cứu kỹ căn cứ pháp lý, đánh giá toàn diện khả năng giải quyết vụ việc trước khi tiếp nhận và đồng hành cùng khách hàng trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp. Đó cũng chính là cách mà Luật Hùng Phúc kiên định theo đuổi giá trị cốt lõi của mình – “Vì những điều tốt đẹp”, mang lại những giải pháp pháp lý hiệu quả, bền vững và đáng tin cậy cho cộng đồng doanh nghiệp.
Liên hệ ngay để được tư vấn trực tiếp: 0979 80 1111
LIÊN HỆ TƯ VẤN
















